Danh mục sản phẩm
Ngàm Âm Dương Tấm Panel ALC: Biên Dạng Thật Theo Từng Độ Dày | Càn Thanh
Post 2026-08-13 |
|
Trả lời nhanh Ngàm âm dương là cặp biên dạng khớp nhau chạy suốt hai cạnh dài đối diện của tấm Panel ALC: một cạnh là gờ nổi (ngàm dương), cạnh kia là rãnh lõm (rãnh âm). Khi lắp, ngàm dương của tấm này cài vào rãnh âm của tấm kế bên. Trên panel Càn Thanh dày 100mm: ngàm dương nhô ra 8mm, rãnh âm sâu 10mm; chân ngàm rộng 30mm khớp vào miệng rãnh rộng 34mm; đỉnh ngàm rộng 20mm khớp vào đáy rãnh rộng 24mm. Mọi cặp kích thước đều lệch nhau đúng 4mm, tức 2mm mỗi bên - khe hở 2mm này là chỗ chứa keo, không phải sai số gia công. Vì ngàm dương (8mm) ngắn hơn rãnh âm (10mm), hai tấm luôn tì vào nhau bằng phần vai phẳng chứ không bị ngàm chống lên. Nhờ vậy tấm rộng phủ bì 608mm nhưng bước lắp đặt vẫn đúng mô đun 600mm. |
|
Gọi 0967 213 312 - Zalo 0982 127 343, kỹ sư Càn Thanh gửi file kỹ thuật miễn phí. |
Ngàm âm dương panel ALC là gì và nằm ở đâu trên tấm?
Ngàm âm dương (một số tài liệu gọi là mộng âm dương, tiếng Anh là tongue and groove) là cặp biên dạng được tạo hình ngay trong khuôn đúc, chạy liên tục suốt chiều dài tấm trên hai cạnh dài đối diện nhau. Một cạnh nhô ra thành gờ - gọi là ngàm dương. Cạnh còn lại lõm vào thành rãnh - gọi là rãnh âm. Hai cạnh đầu tấm (cạnh ngắn) không có ngàm, đây là cạnh cắt phẳng.
Điều đó có nghĩa: trong một bức tường panel, chỉ những mạch chạy dọc theo cạnh dài của tấm mới là mạch ngàm. Các mạch ở hai đầu tấm là mạch giáp phẳng thông thường và phải xử lý theo cách khác.
Ngàm không phải chi tiết trang trí. Nó có ba nhiệm vụ kỹ thuật rất cụ thể, sẽ được phân tích lần lượt trong bài này:
- Dẫn hướng và tự canh thẳng hàng: tấm sau vào đúng mặt phẳng của tấm trước mà không cần căn chỉnh lại từng tấm.
- Khóa chuyển vị vuông góc với mặt tường: hai tấm liền kề không thể trượt lệch ra khỏi mặt phẳng tường mà không phá vỡ ngàm.
- Tạo sẵn một khoang chứa keo có thể tích xác định, nằm đúng giữa chiều dày tấm - thứ mà mối nối giáp phẳng không có.
Biên dạng ngàm thực tế theo từng độ dày - đọc từ bản vẽ gốc
Phần dưới đây không lấy từ tài liệu quảng cáo mà đọc trực tiếp từ ba bản vẽ biên dạng ngàm gốc của Càn Thanh cho panel dày 75mm, 100mm và 150mm.
|
Thông số biên dạng ngàm |
Panel dày 75mm |
Panel dày 100mm |
Panel dày 150mm |
|---|---|---|---|
|
Số ngàm trên mỗi cạnh |
1 |
1 |
2 (ngàm kép) |
|
Ngàm dương nhô ra |
8 |
8 |
8 |
|
Bề rộng chân ngàm dương |
21 |
30 |
21 (mỗi ngàm) |
|
Bề rộng đỉnh ngàm dương |
15 |
20 |
15 (mỗi ngàm) |
|
Rãnh âm sâu |
10 |
10 |
10 |
|
Bề rộng miệng rãnh âm |
25 |
34 |
25 (mỗi rãnh) |
|
Bề rộng đáy rãnh âm |
19 |
24 |
19 (mỗi rãnh) |
|
Vát mép hai mặt tấm |
6 × 6 |
8 × 8 |
6 × 6 |
|
Rãnh khóa keo giữa thân tấm |
không có |
không có |
chữ V 12 rộng × 6 sâu |
|
Bề rộng lọt lòng / phủ bì |
600 / 608 |
600 / 608 |
600 / 608 |
Một quan sát đáng chú ý: panel 75mm và panel 150mm dùng chung một cỡ ngàm (nhô 8 – chân 21 – đỉnh 15). Panel 150mm không phóng to ngàm lên cho tương xứng độ dày, mà bố trí hai ngàm cùng cỡ nằm song song. Cách làm này giữ nguyên bộ dao tạo hình và cho hiệu quả khóa chuyển vị tốt hơn một ngàm lớn duy nhất, vì hai điểm tựa cách xa nhau sẽ chống xoay tốt hơn một điểm tựa ở giữa.
Panel 100mm thì ngược lại: một ngàm duy nhất nhưng lớn hơn hẳn (chân 30 thay vì 21) và mép vát cũng rộng hơn (8mm thay vì 6mm). Đây là quy cách phổ biến nhất trên thị trường nên cũng là biên dạng được trình bày chi tiết nhất trong bài.
Về phạm vi áp dụng của ngàm trong dải sản phẩm Càn Thanh: các độ dày 75, 100, 150 và 200mm đều có ngàm âm dương. Riêng tấm mỏng 50mm là cạnh phẳng, không có ngàm - chiều dày này chỉ dùng làm vách ngăn nhẹ không chịu tải và liên kết dựa vào hệ khung cùng pat thép thay vì dựa vào ngàm. Bảng trên chỉ liệt kê ba độ dày đã có bản vẽ biên dạng gốc; số liệu chi tiết của tấm 200mm sẽ được bổ sung khi có bản vẽ.
Chi tiết quan trọng nhất: khe keo 2mm đều quanh chu vi ngàm
Đặt các con số của panel 100mm cạnh nhau sẽ thấy ngay một quy luật: rãnh âm luôn lớn hơn ngàm dương đúng 4mm ở mọi chiều, và sâu hơn đúng 2mm.
|
Cặp kích thước khớp nhau |
Ngàm dương |
Rãnh âm |
Chênh lệch |
Khe hở mỗi bên |
|---|---|---|---|---|
|
Chiều sâu ăn khớp |
nhô ra 8 |
sâu 10 |
2 |
2 (ở đỉnh ngàm) |
|
Bề rộng chân / miệng |
30 |
34 |
4 |
2 (mỗi bên sườn) |
|
Bề rộng đỉnh / đáy |
20 |
24 |
4 |
2 (mỗi bên sườn) |
Kết quả là một khe hở đều đúng 2mm bao quanh toàn bộ chu vi ngàm. Đây là thiết kế có chủ đích, không phải dung sai gia công, và nó tạo ra ba hệ quả kỹ thuật mà tài liệu của các nhà cung cấp khác gần như không nhắc tới.
Khoang keo này không phải là thứ chỉ tồn tại trên bản vẽ. Ảnh dưới đây chụp hai tấm panel ALC dày 100mm ghép khan - ghép trực tiếp không bôi keo - để nhìn thấy đúng phần hình học vừa mô tả.
Ba chi tiết đọc được ngay từ tấm ảnh: khe hở tối bao quanh ngàm dương chính là khoang keo; đỉnh ngàm không chạm đáy rãnh nên vẫn còn khoảng trống phía trên; và hai vai phẳng hai bên ngàm đã tiếp xúc kín, không còn khe nhìn thấy. Đây là trạng thái đúng của một mối ghép đạt - ngàm dẫn hướng, vai định vị, khoang giữa để dành cho keo.
Hệ quả 1 - hai tấm tì nhau bằng vai phẳng, không bị ngàm chống lên
Vì ngàm dương chỉ nhô ra 8mm trong khi rãnh âm sâu tới 10mm, ngàm không bao giờ chạm đáy rãnh. Bộ phận thực sự chịu lực ép khi thợ ép hai tấm vào nhau là hai vai phẳng hai bên ngàm - với panel 100mm là hai dải rộng 27mm mỗi bên.
Điều này quan trọng hơn vẻ ngoài của nó. Nếu ngàm dài bằng hoặc dài hơn rãnh, chỉ cần một hạt vữa khô hay một mảnh vụn rơi vào đáy rãnh là tấm sau bị kênh ra vài milimét, và sai lệch đó cộng dồn qua từng tấm khiến bức tường dài bị lệch tim dần. Với biên dạng hiện tại, đáy rãnh luôn còn 2mm dự phòng nên lỗi này không xảy ra.
Có một cách kiểm tra rất nhanh ngay tại kho hoặc tại công trường: dựng đứng hai tấm ghép khan như trong ảnh dưới, rồi nhìn dọc theo mặt tấm. Nếu hai mặt tấm nằm đúng một mặt phẳng và hai vai đã chạm nhau, biên dạng ngàm của lô hàng đó đạt. Nếu hai tấm còn kênh nhau hoặc mặt tấm bị vênh bậc, hoặc ngàm của lô đó bị quá cỡ, hoặc cạnh tấm đã bị sứt.
![]()
Hai tấm Panel ALC 100mm ghép khan dựng đứng - hai mặt tấm nằm đúng một mặt phẳng, không kênh bậc. Phép kiểm tra biên dạng ngàm đơn giản nhất khi nhận hàng.
Hệ quả 2 - mỗi mét mạch ngàm có sẵn một khoang chứa keo
Lấy tiết diện rãnh âm trừ đi tiết diện ngàm dương sẽ ra tiết diện khoang keo. Với panel 100mm: rãnh âm là hình thang miệng 34 – đáy 24 – sâu 10, tiết diện 290mm²; ngàm dương là hình thang chân 30 – đỉnh 20 – cao 8, tiết diện 200mm². Chênh lệch 90mm².
Nhân với 1.000mm chiều dài, mỗi mét dài mạch ngàm chứa được khoảng 90cm³ keo, tức xấp xỉ 90ml. Đây là phần keo nằm bên trong ngàm, chưa kể lớp keo mỏng trên hai vai phẳng và phần hao hụt khi thi công.
|
Độ dày tấm |
Tiết diện khoang keo trong ngàm |
Thể tích khoang mỗi mét mạch ngàm |
Thể tích khoang trên 1m² tường |
|---|---|---|---|
|
75mm |
76 mm² |
≈ 76 ml |
≈ 0,13 lít |
|
100mm |
90 mm² |
≈ 90 ml |
≈ 0,15 lít |
|
150mm |
224 mm² (2 ngàm + rãnh khóa giữa) |
≈ 224 ml |
≈ 0,37 lít |
Cột cuối quy đổi theo mật độ mạch ngàm của tường panel: cứ mỗi 1m² tường có khoảng 1,67 mét dài mạch ngàm (vì mô đun tấm là 600mm).
Cần nói rõ để không ai dùng nhầm ba con số này khi đặt hàng: đây là THỂ TÍCH HÌNH HỌC CỦA KHOANG NGÀM, không phải định mức tiêu hao vật tư. Chúng trả lời câu hỏi "khoang trong ngàm chứa được bao nhiêu", chứ không trả lời câu hỏi "phải mua bao nhiêu bao vữa". Định mức đặt hàng thật được trình bày ngay dưới đây và lớn hơn con số hình học khoảng một bậc.
Định mức đặt hàng thật: 0,8 bao vữa EBT 104 cho mỗi m³ panel
Con số dùng để lập dự toán và đặt hàng là định mức tiêu hao do nhà cung cấp công bố, không phải thể tích hình học của khoang ngàm. Với vữa xây chuyên dụng EBT 104 mà Càn Thanh phân phối cho mạch nối panel, định mức là 0,8 bao loại 25kg cho mỗi mét khối panel ALC lắp dựng - tức 20kg vữa trên mỗi m³ panel.
Định mức tính theo thể tích panel nên rất tiện quy đổi: nhân 20kg với chiều dày tấm tính bằng mét là ra khối lượng vữa cho mỗi mét vuông tường.
|
Độ dày tấm |
Khối lượng vữa trên 1m² tường |
1 bao 25kg đủ cho |
Vữa cho mỗi tấm 1200 × 600 |
|---|---|---|---|
|
75mm |
1,5 kg |
≈ 16,7 m² tường |
≈ 1,08 kg |
|
100mm |
2,0 kg |
≈ 12,5 m² tường |
≈ 1,44 kg |
|
150mm |
3,0 kg |
≈ 8,3 m² tường |
≈ 2,16 kg |
|
200mm |
4,0 kg |
≈ 6,2 m² tường |
≈ 2,88 kg |
Ví dụ cụ thể: một bức tường 100m² dùng panel dày 100mm cần khoảng 200kg vữa EBT 104, tức 8 bao. Con số này đã bao gồm hao hụt thi công thông thường vì nó là định mức thực tế, không phải tính toán lý thuyết.
Vì sao định mức thật lớn hơn thể tích khoang ngàm gần chục lần? Vì khoang ngàm chỉ là một phần của lượng vữa thực dùng. Vữa còn nằm trên hai vai phẳng hai bên ngàm; nằm trong mạch đứng ở hai đầu tấm - nơi đó là mạch giáp phẳng nên tiết diện mạch bằng cả chiều dày tấm chứ không phải 90mm²; nằm trong phần chèn chân tường và đỉnh tường; và một phần rơi vãi trong quá trình thi công.
Nói gọn: con số hình học cho biết mối ghép được thiết kế thế nào, con số định mức cho biết phải mua bao nhiêu. Dùng nhầm con số nào cũng dẫn tới sai - lấy 0,15 lít/m² đi đặt hàng thì thiếu vật tư ngay từ mảng tường đầu tiên.
Hệ quả 3 - khe 2mm chính là điều TCVN 12867:2020 yêu cầu
Bảng 2 của TCVN 12867:2020 quy định dung sai rãnh ngàm theo một cách rất đặc biệt: chiều cao rãnh âm được phép sai +2mm còn rãnh dương là −2mm; chiều rộng rãnh âm +3mm còn rãnh dương −3mm. Dung sai của rãnh âm luôn mang dấu dương, dung sai của rãnh dương luôn mang dấu âm.
Nói cách khác, tiêu chuẩn chỉ cho phép sai lệch theo chiều làm mối ghép rộng thêm, tuyệt đối không cho phép sai theo chiều làm hai tấm chèn cứng vào nhau. Biên dạng của Càn Thanh đi xa hơn yêu cầu đó: thay vì để hai chi tiết bằng nhau rồi trông chờ vào dung sai, bản vẽ đã chủ động chừa sẵn 2mm ngay từ kích thước danh nghĩa.
Đây cũng là lý do khi nghiệm thu vật liệu, nên đo bề rộng miệng rãnh âm và bề rộng chân ngàm dương của cùng một lô rồi lấy hiệu số. Hiệu số phải dương và xấp xỉ 4mm. Nếu hiệu số bằng 0 hoặc âm, tấm sẽ rất khó ép sát và mạch nối chắc chắn bị hở.
Phủ bì 608mm nhưng bước lắp đặt vẫn đúng 600mm - cách tính số tấm
Đây là con số hay bị nhầm nhất khi bóc khối lượng. Đo một tấm panel rời bằng thước, kết quả sẽ là 608mm chứ không phải 600mm, vì thước bắt cả phần ngàm dương nhô ra 8mm. Nhưng khi lắp, 8mm đó nằm gọn trong rãnh âm của tấm bên cạnh.
Vì hai vai phẳng của hai tấm tì trực tiếp vào nhau, khoảng cách tim – tim giữa hai mạch ngàm liên tiếp đúng bằng 608 − 8 = 600mm. Mô đun lắp đặt vì thế luôn là 600mm, bất kể độ dày tấm là 75, 100 hay 150mm.
Quy tắc bóc khối lượng rút ra từ đó rất gọn: lấy kích thước tường theo phương vuông góc với mạch ngàm chia cho 0,6m; không bao giờ chia cho 0,608m.
Ví dụ tính nhanh cho một bức tường 6,0m × 3,0m
- Tấm sử dụng: Panel ALC 1200 × 600 × 100mm, lắp nằm ngang (cạnh 1200mm nằm ngang, mạch ngàm chạy ngang).
- Số hàng theo chiều cao: 3,0m ÷ 0,6m = 5 hàng.
- Số tấm mỗi hàng: 6,0m ÷ 1,2m = 5 tấm.
- Tổng: 5 × 5 = 25 tấm, tương đương 25 × 0,72m² = 18m² - khớp đúng diện tích tường, không phát sinh hao hụt do ngàm.
Ngàm giúp giảm bao nhiêu chiều dài mạch so với xây gạch?
Đây là chỗ nên so sánh bằng số thay vì nói chung chung. Cùng một mét vuông tường dày 100mm:
|
Chỉ tiêu trên 1m² tường |
Panel ALC 1200×600 |
Gạch AAC 600×200 |
|---|---|---|
|
Số cấu kiện phải đặt |
1,39 tấm |
8,33 viên |
|
Chiều dài mạch ngang |
1,67 m |
5,00 m |
Bạn sẽ quan tâm:Độ Bền Va Đập Tường Panel ALC: Test TCVN 12868:2020 & BS 5234 | Càn Thanh Panel ALC Treo Được Vật Nặng Bao Nhiêu Kg? Kết Quả Kiểm Tra Thực Tế Theo TCVN 12868:2020 Panel ALC Chịu Lực Thế Nào? Số Liệu Test Uốn, Va Đập, Treo | Càn Thanh Cốt Thép Trong Panel ALC: Cấu Tạo, Chống Gỉ, 1 Lớp Hay 2 Lớp? | Càn Thanh TCVN 12867:2020 Tấm Panel ALC: Giải Mã Toàn Bộ Chỉ Tiêu Kỹ Thuật | Càn Thanh Thi Công Gạch AAC Không Bị Nứt: 6 Nguyên Tắc Vàng Về Vữa, Tưới Ẩm & Bảo Dưỡng Bạn đang cần một giải pháp xây nhà bằng vật liệu gạch bê tông nhẹ?●●●
Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn miễn phí về sản phẩm và những chính sách ưu đãi nhất |

