Danh mục sản phẩm
7 lỗi thường gặp khi thi công Panel ALC và cách khắc phục
Post 2026-08-19 |
|
Trả lời nhanh Bảy lỗi thường gặp nhất khi thi công tấm Panel ALC là: đục khoét điện nước quá giới hạn và cắt đứt cốt thép; lắp tấm khi kết cấu chịu lực chưa hoàn thành hoặc tháo chống tạm quá sớm; nhảy cóc trình tự nghiệm thu; dùng tấm đã ngấm mưa; cắt tấm tại công trường rồi lắp luôn; chống thấm sai vị trí hoặc bịt kín cả hai mặt tường; và tưới nước lên tường trước khi trát theo thói quen xây gạch. Điểm chung của cả bảy: phần lớn không phải lỗi tay nghề mà là lỗi TRÌNH TỰ. Chúng đều có điều khoản tương ứng trong TCVN 12869:2020 hoặc TCVN 12867:2020, nên đều có thể phát hiện bằng kiểm tra hồ sơ chứ không cần chờ tường nứt mới biết. |
|
Đang gặp sự cố trên một công trình cụ thể? Gửi ảnh hiện trạng, kỹ sư Càn Thanh xem và tư vấn hướng xử lý - Hotline 0967 213 312 |
Vì sao lỗi thi công panel khác hẳn lỗi xây gạch
Một bức tường xây gạch làm sai chủ yếu vì tay nghề: mạch không no vữa, hàng không thẳng, mối không so le. Thợ giỏi thì tường tốt. Tường tấm Panel ALC thì khác - phần lớn sự cố không đến từ thao tác của người thợ mà đến từ thứ tự các đầu việc và từ những quyết định được đưa ra trước khi tấm đầu tiên chạm vào sàn.
Lý do nằm ở chỗ panel là cấu kiện đúc sẵn có cốt thép, được lắp vào một khung kết cấu đang biến dạng, và bản thân nó vẫn còn co ngót thêm nhiều tháng sau khi lắp. Ba yếu tố đó ràng buộc lẫn nhau theo thời gian. Làm đúng thao tác nhưng làm sai thời điểm thì kết quả vẫn hỏng - và đó là điều mà một đội thợ quen xây gạch rất khó tự nhận ra.
Hệ quả thực tế rất có lợi cho công tác giám sát: vì đa số lỗi là lỗi trình tự, chúng đều có điều khoản tương ứng trong TCVN 12869:2020, và đều phát hiện được bằng kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra tại chỗ ở đúng thời điểm - không cần chờ vết nứt xuất hiện sau sáu tháng mới biết.
Bảy lỗi dưới đây được sắp theo mức độ khó sửa: lỗi số 1 gần như không sửa được sau khi đã xảy ra, lỗi số 7 chỉ tốn công làm lại lớp hoàn thiện.
Bảng tổng hợp: 7 lỗi, dấu hiệu và thời điểm phát hiện
|
Lỗi |
Dấu hiệu điển hình |
Điều khoản bị vi phạm |
Còn sửa được không |
|---|---|---|---|
|
1. Đục khoét điện nước quá giới hạn, cắt đứt cốt thép |
Rãnh sâu quá nửa chiều dày tấm; nhìn thấy đầu thép bị cắt trong rãnh |
TCVN 12869 mục 7.5.1, 7.5.2 |
Rất khó - thường phải thay tấm |
|
2. Lắp tấm khi kết cấu chịu lực chưa xong, hoặc tháo chống tạm sớm |
Tường xô lệch, nứt chéo ở góc, tấm bị kênh khỏi mặt phẳng |
TCVN 12869 mục 4, 6.3.3, 6.3.4 |
Khó - phải tháo và lắp lại mảng tường |
|
3. Nhảy cóc trình tự: đi ngầm hoặc trát khi tường chưa nghiệm thu |
Không có biên bản nghiệm thu lắp dựng; tường đã trát mới phát hiện lệch quá Bảng 1 |
TCVN 12869 mục 7.2, 7.7, 8.1 |
Khó - phải phá lớp hoàn thiện để đo lại |
|
4. Dùng tấm đã ngấm mưa hoặc bảo quản sai |
Tấm sẫm màu, nặng bất thường; sau vài tháng mạch nứt hàng loạt |
TCVN 12869 mục 5.2.3, 5.3.2, 6.3.7 |
Không sửa được- chỉ xử lý hậu quả |
|
5. Cắt tấm tại công trường rồi lắp luôn |
Cạnh cắt lộ đầu thép, không có lớp bảo vệ; mạch tại tấm cắt hở đều |
TCVN 12869 mục 9.3.2, 6.1.3 |
Sửa được nếu phát hiện sớm |
|
6. Chống thấm sai vị trí, hoặc bịt kín cả hai mặt tường |
Chân tường WC ẩm loang; hoặc tường sơn kín hai mặt nứt dai dẳng |
TCVN 12869 mục 8.3.4, 8.5.4 |
Sửa được - làm lại lớp hoàn thiện |
|
7. Tưới nước lên tường trước khi trát, hoặc vữa trát không đảm bảo bám dính |
Lớp trát chảy xệ khi thi công; sau đó bộp, bong mảng |
TCVN 12869 mục 8.4.2, 8.4.3 |
Sửa được - bóc trát và làm lại |
Cột cuối cùng là lý do bài này nên được đọc trước khi thi công chứ không phải sau. Ba lỗi đầu tiên tốn kém gấp nhiều lần bốn lỗi còn lại, và cả ba đều có thể chặn được bằng một cuộc họp trình tự thi công kéo dài ba mươi phút.
Lỗi 1 - Đục khoét điện nước quá giới hạn và cắt đứt cốt thép
|
Dấu hiệu: rãnh đi ngầm sâu quá nửa chiều dày tấm, hoặc rộng quá một phần ba chiều rộng tấm. Nặng hơn là nhìn thấy đầu cốt thép bị cắt đứt nằm phơi trong rãnh. Vết nứt sau này thường chạy đúng theo đường rãnh. |
Nguyên nhân gần như luôn giống nhau: đội M&E vào sau, không đọc bản vẽ tấm, và dùng máy đục lớn phá thẳng vào tường theo thói quen làm với tường gạch. Với tường gạch thì rãnh sâu không làm mất khả năng chịu lực vì tường gạch không có cốt thép chịu uốn. Với panel thì cắt đứt thép dọc là cắt đứt chính bộ phận làm nên khả năng chịu uốn và khả năng treo vật nặng của tấm.
TCVN 12869:2020 quy định rất cụ thể tại mục 7.5.1: chiều sâu của đường kỹ thuật đi ngầm và hộp kỹ thuật ngầm không vượt quá 1/2 chiều dày tấm tường; chiều rộng không nên vượt quá 1/3 chiều rộng tấm tường. Với tấm 1200 × 600 × 100mm, giới hạn quy đổi là sâu tối đa 50mm và rộng tối đa 200mm.
Mục 7.5.2 bổ sung: bố trí các đường đi ngầm cần tránh vị trí thép dọc và hạn chế tối đa việc cắt cốt thép của tấm tường. Đây là chỗ cần biết thép nằm ở đâu. Theo Phụ lục A của TCVN 12867:2020, tấm rộng 600mm thường bố trí ba thanh thép dọc với khoảng cách điển hình 50 / 500 / 50mm - nghĩa là hai thanh biên nằm rất sát hai cạnh tấm, chỉ cách mép khoảng 50mm.
Cách phòng: yêu cầu bản vẽ hệ thống đi ngầm được lập và phê duyệt trước khi thi công theo mục 7.4, và bản vẽ đó phải chồng lên sơ đồ bố trí tấm để thấy rãnh rơi vào đâu. Ưu tiên rãnh đứng chạy giữa tấm, tránh dải 50mm sát mép. Về thao tác, mục 7.5 mô tả đúng cách làm: dùng máy cắt cắt hai đường song song theo chiều sâu đã định, rồi đục bỏ phần bê tông khí chưng áp giữa hai đường cắt bằng máy đục loại nhỏ hoặc đục thủ công.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: nếu rãnh chỉ vượt chiều sâu mà chưa chạm thép, có thể chấp nhận sau khi có ý kiến của thiết kế, xử lý bằng cách dán lưới và điền đầy theo mục 7.8, đồng thời không treo tải lên vùng đó. Nếu đã cắt đứt thép dọc thì không có biện pháp vá nào khôi phục lại được khả năng chịu uốn của tấm - phương án đúng là thay tấm. Đây là lý do lỗi này đứng đầu danh sách.
Lỗi 2 - Lắp tấm khi kết cấu chịu lực chưa xong, hoặc tháo chống tạm quá sớm
|
Dấu hiệu: mảng tường bị xô lệch khỏi tim, nứt chéo tại góc ô cửa, tấm bị kênh khỏi mặt phẳng chung. Thường xuất hiện sau khi các đầu việc khác của công trình tiếp tục chạy quanh bức tường vừa lắp. |
TCVN 12869:2020 mở đầu phần thi công bằng một câu ngắn nhưng có sức nặng: thi công lắp dựng tấm được thực hiện sau khi hoàn thành kết cấu chịu lực và trước khi hoàn thiện. Lắp panel khi khung còn đang thi công đồng nghĩa với việc bắt bức tường chịu chuyển vị của khung trong lúc khung vẫn còn biến dạng - và tường panel không được thiết kế để chịu thứ đó.
Nửa còn lại của lỗi này là tháo hệ ổn định tạm quá sớm. Mục 6.3.4 quy định: nếu không dùng các liên kết cơ khí, cần sử dụng các biện pháp ổn định tạm thời cho các tấm, và các biện pháp này cần được duy trì đến khi kết cấu tường đạt độ ổn định cần thiết. Trên thực tế, hệ chống tạm hay bị tháo vì vướng đường đi của đội khác, chứ không phải vì tường đã ổn định.
Một biến thể ít được nhắc: thi công lanh tô cửa đi, cửa sổ khi tấm đỡ nó chưa ổn định. Mục 6.3.3 quy định các tấm hoặc chi tiết chỉ liên kết với tấm tường mà không kê lên sàn chỉ được thực hiện khi các tấm tường mà nó kê lên đạt độ ổn định yêu cầu.
Cách phòng: đưa mốc 'kết cấu chịu lực đã nghiệm thu' thành điều kiện khởi công của gói tường panel trong hợp đồng thầu phụ, không để nó là thỏa thuận miệng tại hiện trường. Với hệ chống tạm, ghi rõ trong biện pháp thi công mốc thời điểm được phép tháo và ai là người quyết định.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: nếu tường mới xô lệch mà keo chưa ninh kết hoàn toàn, còn cơ hội tháo pat, căn chỉnh lại và neo lại theo mục A.5. Nếu keo đã đóng rắn và tường đã lệch quá giá trị Bảng 1 thì phương án trung thực là tháo và lắp lại mảng tường đó - vá bằng lớp trát dày sẽ đẩy sang lỗi số 7.
Lỗi 3 - Nhảy cóc trình tự nghiệm thu
|
Dấu hiệu: hồ sơ không có biên bản nghiệm thu công tác lắp dựng, nhưng tường đã cắt rãnh điện nước hoặc đã trát. Sự cố lộ ra muộn, thường là khi ốp lát hoặc khi lắp cửa mới phát hiện tường lệch. |
TCVN 12869:2020 ràng buộc trình tự bằng ba điều khoản liên tiếp, và cả ba đều dùng từ 'sau khi… được nghiệm thu' chứ không phải 'nên'. Mục 7.2: thi công hệ thống kỹ thuật đi ngầm chỉ được thực hiện sau khi kết cấu tường đã đạt độ ổn định và được nghiệm thu. Mục 7.7: công tác hoàn thiện đường đi ngầm được thực hiện sau khi hệ thống đi ngầm đã được nghiệm thu. Mục 8.1: hoàn thiện bề mặt tường được thực hiện sau khi lắp dựng tấm và thi công đi ngầm đã hoàn thành và được nghiệm thu.
Lý do trình tự này tồn tại rất thực tế. Bốn chỉ tiêu sai lệch của Bảng 1 - độ lệch thẳng đứng không quá 10mm, độ lệch trục tấm không quá 5mm, độ lệch ô chờ cửa 3mm/m theo phương ngang và 10mm theo phương đứng, độ không bằng phẳng ±5mm khi rà thước 2m - chỉ đo được chính xác trên bề mặt tấm trần. Khi đã trát phủ, phép đo chỉ còn phản ánh chất lượng lớp trát chứ không phản ánh vị trí thật của tấm.
Còn một mục rất dễ quên: mục 9.3.2 yêu cầu các tấm sau gia công phải được nghiệm thu về độ chính xác gia công trước khi đưa vào lắp dựng. Tấm cắt tại công trường cũng là tấm gia công.
Cách phòng: mục 9.3.3 đã liệt kê sẵn bốn công việc phải nghiệm thu trong quá trình thi công - trắc đạc và định vị, lắp dựng, thi công các hệ thống đi ngầm, hoàn thiện. Đưa đúng bốn biên bản này thành bốn mốc trong tiến độ, và gắn điều kiện thanh toán vào từng mốc là cách hiệu quả nhất để trình tự không bị bỏ qua.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: nếu tường đã trát mà chưa có biên bản nghiệm thu lắp dựng, cách duy nhất để có số liệu thật là bóc thăm một số vị trí, đo lại và lập biên bản ghi nhận hiện trạng kèm ghi chú rằng phép đo thực hiện sau hoàn thiện. Đây là hồ sơ yếu, nhưng vẫn tốt hơn hồ sơ trống.
Lỗi 4 - Dùng tấm đã ngấm mưa hoặc bảo quản sai tại công trường
|
Dấu hiệu tại chỗ: tấm sẫm màu hơn bình thường, nặng bất thường khi nâng, chồng tấm để trần ngoài trời không mái che. Dấu hiệu về sau: mạch nối nứt hàng loạt và đồng loạt sau vài tháng, chứ không nứt lác đác vài chỗ. |
Đây là lỗi có hậu quả trễ nhất nên cũng bị xem nhẹ nhất. Mục 6.3.7 yêu cầu trong quá trình thi công lắp dựng cần có biện pháp đảm bảo tránh để tấm bị ẩm, ướt, kèm chú thích: khi bị ẩm ướt, chất lượng của tấm tường bê tông khí chưng áp cốt thép có thể bị ảnh hưởng. Mục 5.2.3 yêu cầu kho tại công trường có nền cao ráo, không ngập nước, có mái che hoặc biện pháp bảo vệ tránh tác động của nước mưa. Mục 5.3.2 yêu cầu trong quá trình vận chuyển phải chằng buộc, giữ cố định và bảo vệ tránh va đập, tránh mưa ẩm.
Cơ chế đằng sau là co ngót khô. Bê tông khí chưng áp rời nhà máy với độ ẩm được khống chế - TCVN 12867:2020 mục 5.3.3 quy định độ ẩm xuất xưởng không quá 25% với sản phẩm dùng cát nghiền và không quá 30% với sản phẩm dùng tro bay. Toàn bộ phần ẩm đó sẽ thoát dần sau khi lắp, và tấm co lại trong quá trình thoát. Tấm ngấm thêm nước mưa trước khi lắp nghĩa là bức tường sẽ phải co nhiều hơn và lâu hơn ngay tại vị trí đã cố định - ứng suất đó đi thẳng vào mạch nối.
Về thời gian: theo mô hình co ngót của tài liệu RILEM, thời gian bán co ngót của AAC khối lượng thể tích D600 vào khoảng 36 ngày với tấm dày 100mm khi cả hai mặt cùng thoát ẩm, và đạt khoảng 90% mức co ngót cuối cùng sau chừng 11 tháng. Đây không phải quá trình vài tuần.
Mục 5.2.4 còn quy định cách xếp: các cấu kiện phải được sắp xếp thành từng khu theo phân loại tấm, khoảng cách an toàn giữa các chồng liền kề không nhỏ hơn 200mm và lối đi giữa các chồng không nhỏ hơn 700mm. Chồng tấm xếp sát nhau ngoài việc khó bốc dỡ còn hay dẫn tới va quệt làm sứt cạnh ngàm - và cạnh ngàm sứt thì mạch nối tại đó không bao giờ kín được.
Cách phòng: quy định vị trí kho bãi và mái che trong biện pháp thi công, chụp ảnh hiện trạng kho làm hồ sơ. Không nhận hàng vào những ngày mưa nếu chưa có chỗ che. Kiểm tra bằng cảm quan khi nhận: tấm ngấm nước có màu sẫm rõ rệt và nặng hơn hẳn tấm khô cùng quy cách.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: tấm đã ngấm mưa không có cách nào 'sấy lại' tại công trường cho về trạng thái ban đầu trong thời gian hợp lý. Nếu buộc phải dùng, cần để tấm khô tự nhiên nơi thoáng có mái che càng lâu càng tốt trước khi lắp, và tuyệt đối không sơn bả chống thấm kín cả hai mặt tường sau đó - làm vậy sẽ kéo dài giai đoạn co ngót lên gấp nhiều lần thay vì rút ngắn.
Lỗi 5 - Cắt tấm tại công trường rồi lắp luôn
|
Dấu hiệu: cạnh cắt lộ đầu cốt thép không có lớp bảo vệ; mạch tại vị trí tấm cắt hở đều suốt chiều dài và phải trám dày; tấm cắt được đặt rải rác giữa bức tường thay vì dồn về vị trí kết thúc. |
Cắt tấm tại công trường là việc bình thường và được tiêu chuẩn dự liệu. Mục 6.1.3 định nghĩa tấm cần gia công là tấm được cắt từ tấm nguyên để lắp vào các vị trí đặc biệt, tấm được khoan, đục lỗ kỹ thuật xuyên tấm - và yêu cầu bản vẽ thiết kế thi công thể hiện chi tiết kích thước, sai số kích thước, biện pháp gia công và biện pháp đảm bảo tránh ăn mòn cốt thép nếu cần. Vấn đề là ba việc kèm theo hay bị bỏ.
Việc bị bỏ thứ nhất: nghiệm thu. Mục 9.3.2 yêu cầu tấm sau gia công phải được nghiệm thu về độ chính xác gia công trước khi đưa vào lắp dựng. Cắt xong lắp luôn là bỏ hẳn một bước bắt buộc.
Việc bị bỏ thứ hai: xử lý cạnh cắt lộ thép. TCVN 12867:2020 mục 5.3.4 yêu cầu cốt thép phải là thép mạ kẽm, thép không gỉ hoặc thép có lớp bảo vệ chống ăn mòn, và chiều dày lớp bê tông bảo vệ không nhỏ hơn 10mm. Khi cắt ngang tấm, mặt cắt phơi đầu thép ra ngoài - đúng vị trí mà cả lớp phủ lẫn lớp bê tông bảo vệ đều không còn. Nếu tấm cắt nằm ở tường ngoài, tường WC hoặc chân tường ẩm, đây là điểm khởi đầu của ăn mòn.
Việc bị bỏ thứ ba: bố trí vị trí tấm cắt. Cắt theo bề rộng sẽ cắt mất ngàm dương hoặc rãnh âm ở cạnh bị cắt, biến cạnh đó thành cạnh phẳng. Mạch tại đó không còn ngàm dẫn hướng và không còn khoang chứa keo, nên phải xử lý như mạch giáp phẳng.
Cách phòng, theo thứ tự ưu tiên. Thứ nhất và rẻ nhất: bố trí tấm cắt về vị trí kết thúc mảng tường - sát cột, sát vách hoặc trong góc - ngay từ khâu bóc tách trên bản vẽ, thay vì để thợ tự quyết tại hiện trường; và tránh đặt tấm cắt ở tường ngoài trời, tường WC hay chân tường ẩm nếu bố trí tấm cho phép. Thứ hai: với những vị trí buộc phải dùng tấm cắt ở khu vực ẩm, vật liệu quét bảo vệ chống ăn mòn cho đầu thép phải do thiết kế chỉ định và được đưa vào danh mục vật tư phụ ngay từ bước dự toán.
Nói rõ để chủ động: Càn Thanh không phân phối loại vật liệu quét bảo vệ cạnh cắt này, nên đây là hạng mục nhà thầu cần chủ động mua ngoài theo chỉ định của thiết kế - nếu chờ tới lúc cắt tấm mới nhớ ra thì thường đã muộn.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: nếu tấm cắt chưa lắp, quét vật liệu bảo vệ chống ăn mòn lên các đầu thép lộ ra rồi mới lắp. Nếu đã lắp, xử lý mạch tại tấm cắt như mạch giáp phẳng: trét keo hoặc vữa chuyên dụng đủ dày, dán lưới chống nứt ô không lớn hơn 30mm trùm mỗi bên ít nhất 150mm theo mục 8.4.4, và với vị trí ẩm ướt thì làm thêm lớp chống thấm cục bộ cho mạch đó.
Lỗi 6 - Chống thấm sai vị trí, hoặc bịt kín cả hai mặt tường
|
Dấu hiệu của vế thứ nhất: chân tường WC hoặc bếp ẩm loang lên, bong sơn, mốc. Dấu hiệu của vế thứ hai ngược lại và khó đoán hơn: tường được sơn bả chống thấm cả trong lẫn ngoài lại nứt dai dẳng, trám xong nứt lại. |
Vế thứ nhất là thiếu chống thấm ở đúng chỗ cần. Chú thích của mục 8.3.4 TCVN 12869:2020 nêu rất cụ thể: với tường ngoài, tường hộp kỹ thuật và tường phòng tắm nên chống thấm toàn bộ bề mặt; với tường khu vực bếp và khu vệ sinh không có tấm thì chiều cao chống thấm nên cao hơn 1.200mm. Con số 1.200mm này gần như không xuất hiện trong các hướng dẫn thi công đang lưu hành, dù nó là mốc dễ kiểm tra nhất khi nghiệm thu.
Mục 8.3.3 bổ sung phần hay bị bỏ sót nhất: mối nối giữa các tấm và giữa tấm với kết cấu liền kề phải được điền đầy bằng vật liệu phù hợp, nên sử dụng các vật liệu có khả năng đàn hồi. Chống thấm phủ đều lên mặt tường nhưng mạch nối bên dưới rỗng thì nước vẫn đi theo mạch.
Vế thứ hai thì ngược với trực giác của phần lớn chủ nhà. Mục 8.5.4 khuyến cáo không nên dùng sơn bả có khả năng chống thấm, ngăn cản sự thoát hơi đồng thời trên cả hai bề mặt của một kết cấu tường. Lý do liên quan trực tiếp đến lỗi số 4: độ ẩm trong tấm phải thoát ra ngoài mới hết co ngót. Bịt kín cả hai mặt nghĩa là chặn đường thoát ẩm - bức tường không khô đi được, giai đoạn co ngót kéo dài, và mạch nối tiếp tục nứt lại sau mỗi lần trám.
Theo mô hình co ngót của RILEM, nếu một mặt tường bị bịt kín thì quãng đường thoát ẩm dài gấp đôi và thời gian cần thiết tăng lên khoảng bốn lần. Với tấm dày 100mm, thay vì khoảng 11 tháng để đạt 90% mức co ngót, con số đó bị đẩy lên hàng nhiều năm.
Cách phòng: khi lập biện pháp hoàn thiện, xác định rõ mặt nào của mỗi bức tường được phép dùng vật liệu ngăn hơi và mặt nào phải để thoáng hơi. Nguyên tắc an toàn: chống thấm mặt tiếp xúc nước, để mặt còn lại thoát hơi. Kiểm tra chiều cao chống thấm chân tường bếp và WC theo mốc 1.200mm.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: nếu tường đã bị bịt kín cả hai mặt và đang nứt lặp lại, việc trám thêm lần nữa sẽ không giải quyết được gì. Hướng xử lý là bóc lớp ngăn hơi ở mặt khô - thường là mặt trong phòng - trả lại đường thoát ẩm, chờ tường khô, rồi mới xử lý lại mạch nối. Cách xử lý mạch nối đúng kỹ thuật được trình bày trong bài riêng về nứt mối nối panel ALC.
Lỗi 7 - Tưới nước lên tường trước khi trát, hoặc dùng vữa trát không đảm bảo bám dính
|
Dấu hiệu khi thi công: lớp trát chảy xệ, khó bám, thợ phải trát đi trát lại. Dấu hiệu về sau: gõ nghe bộp, lớp trát bong thành mảng, đôi khi kéo theo cả một lớp mỏng bề mặt tấm. |
Tưới đẫm nước lên tường trước khi trát là phản xạ hoàn toàn đúng với tường xây gạch đất sét - gạch hút nước rất mạnh, không tưới thì vữa mất nước và không bám. Với bê tông khí chưng áp, phản xạ này gây hại.
Tài liệu RILEM về AAC phân tích khá kỹ cơ chế này. Bám dính giữa vữa và AAC phụ thuộc vào ba yếu tố: tốc độ hút nước ban đầu của nền, độ nhám bề mặt và khả năng giữ nước của vữa. Nền quá khô sẽ hút nước khỏi vữa khiến vữa khô cứng và mất dẻo - trường hợp cực đoan là gần như không có bám dính. Nhưng làm ướt nền quá mức thì gây hậu quả ngược lại: bám dính kém và lớp trát chảy xệ. Không có phương pháp đo chính xác tình trạng bề mặt; thợ đánh giá bằng quan sát và phép thử quét nước.
Vế thứ hai của lỗi này là chọn sai vữa. Mục 8.4.2 TCVN 12869:2020 khuyến nghị nên sử dụng vữa trát trộn sẵn cho bê tông nhẹ đáp ứng yêu cầu của TCVN 9028:2011. Dòng vữa tô trộn sẵn Càn Thanh phân phối cho hạng mục này là EBS 302, đáp ứng đúng TCVN 9028:2011 - nghĩa là nó rơi vào nhánh khuyến nghị của mục 8.4.2 chứ không phải nhánh 8.4.3 vốn kèm thêm nghĩa vụ chứng minh bám dính. Mục 8.4.3 cho phép dùng vữa trát theo TCVN 4314:2003, nhưng khi đó cần có biện pháp đảm bảo khả năng liên kết bám dính của vữa trát với bê tông khí chưng áp. Hai lựa chọn này không tương đương về rủi ro: lựa chọn thứ hai đi kèm một nghĩa vụ kỹ thuật mà thực tế rất hay bị bỏ.
Còn một cái bẫy nữa ở khâu ốp gạch. Mục 8.6.1 quy định trường hợp ốp trên bề mặt trát thì cường độ vữa trát phải đạt tối thiểu 75% mác thiết kế. Ốp sớm hơn mốc đó là nguyên nhân phổ biến của hiện tượng bong gạch từng mảng ở tường WC - và khi đó cả lớp gạch lẫn lớp trát cùng rơi.
Cách phòng: ưu tiên vữa trát trộn sẵn dành cho bê tông nhẹ đáp ứng TCVN 9028:2011 - chẳng hạn EBS 302. Nếu dùng vữa thông thường, phải có lớp lót tăng bám dính và ghi rõ biện pháp đó trong biện pháp thi công để có căn cứ nghiệm thu. Về làm ẩm bề mặt: làm ẩm vừa đủ bằng cách phun sương, không dội nước, và đánh giá bằng phép thử quét nước - nước thấm chậm và đều là đạt, nước đọng thành vũng là đã quá ướt.
Đã lỡ rồi thì xử lý sao: chỗ nào gõ nghe bộp thì phải bóc bỏ hẳn phần trát đó chứ không vá đè lên, làm sạch bề mặt, xử lý lớp lót tăng bám dính rồi trát lại bằng vữa đúng chủng loại. Trát đè lên lớp bộp chỉ làm tăng tải cho chính lớp đang bong.
Năm lỗi ở khâu mạch nối - có bài riêng
Vật liệu dùng cho mạch ngàm giữa hai tấm panel trong hệ vật tư Càn Thanh là vữa xây chuyên dụng EBT 104 - cần phân biệt rõ với vữa xi măng cát trộn tại công trường, vốn là nguyên nhân của phần lớn vết nứt mạch. Riêng mạch tiếp giáp giữa tấm với kết cấu liền kề như cột và dầm thì mục 6.3.8 và 8.3.3 TCVN 12869:2020 khuyến nghị dùng vật liệu có khả năng đàn hồi - đây là vị trí cần một chủng loại vật liệu khác hẳn, không dùng chung với vữa mạch tấm – tấm. Trong hệ vật tư Càn Thanh, sản phẩm cho vị trí này là vữa đàn hồi EBF-501 chuyên trám khe biến dạng chống nứt.
Mạch nối là khu vực tập trung nhiều sự cố nhất của tường panel, đủ nhiều để cần một bài riêng. Năm sai lầm dưới đây được phân tích chi tiết trong bài về nứt mối nối panel ALC, kèm cơ chế gây nứt và quy trình xử lý bảy bước.
- Trám mối nối bằng vữa xi măng thông thường thay vì keo hoặc vữa chuyên dụng - nguyên nhân trực tiếp của phần lớn vết nứt mạch.
- Bỏ qua lưới chống nứt, hoặc dán lưới trùm quá hẹp - TCVN 12869:2020 mục 8.4.4 yêu cầu ô lưới không lớn hơn 30mm và trùm mỗi bên ít nhất 150mm.
- Siết pat liên kết quá cứng - pat có nhiệm vụ giữ tấm ổn định, không phải khóa chết tấm.
- Lắp tấm đầu tiên không chuẩn - các tấm sau phải bù sai lệch bằng mạch nối, làm bề rộng mạch không đều.
- Sơn bả chống thấm bịt kín cả hai mặt tường - đã nhắc ở lỗi số 6 của bài này vì hậu quả vượt ra ngoài phạm vi mạch nối.
Một lỗi thường bị đổ nhầm cho thi công: treo vật nặng lên vách mỏng
Phần này để nói cho sòng phẳng, vì đây là tình huống mà đội thi công hay bị quy trách nhiệm oan. Khách hàng treo tủ bếp, bình nóng lạnh hoặc kệ nặng lên vách panel mỏng, vách nứt quanh điểm treo, và kết luận thường là 'thợ lắp không chắc'.
Thực tế nằm ở chỗ khác. TCVN 12867:2020 chỉ bắt buộc chỉ tiêu khả năng treo vật nặng đối với tấm có chiều dài trên 2.000mm, theo mục 5.3.6 - tương tự, chỉ tiêu khả năng chịu uốn tại mục 5.3.5 cũng chỉ bắt buộc với tấm dài trên 2.000mm. Tấm quy cách 1200 × 600mm nằm ngoài phạm vi bắt buộc của cả hai chỉ tiêu này.
Điều đó không có nghĩa tấm ngắn không treo được gì, mà có nghĩa là không có số liệu chuẩn hóa để dựa vào. Đặc biệt với vách ngăn nhẹ dày 50mm - loại cạnh phẳng không có ngàm, dùng cho vách ngăn không chịu tải - thì không được mượn kết quả thử treo 100kg thực hiện trên tấm dày 100mm dài 2.950mm để trả lời cho tấm 50mm. Đó là hai sản phẩm khác nhau ở hai điều kiện thử khác nhau.
Cách làm đúng: xác định vị trí và tải trọng treo ngay từ khâu thiết kế, rồi bố trí giải pháp gia cố điểm treo - nẹp thép hoặc xương đỡ liên kết vào kết cấu, chứ không trông vào bản thân tấm mỏng. Với vật nặng như bình nóng lạnh hoặc tủ bếp trên cao, đây là việc bắt buộc chứ không phải tùy chọn.
Kết quả thử treo vật nặng thực tế trên tấm Panel ALC dày 100mm theo TCVN 12868:2020 được trình bày trong bài riêng về khả năng chịu lực của panel.
Ba mốc kiểm tra chặn được sáu trên bảy lỗi
Bảy lỗi trên trải suốt vòng đời của bức tường, nhưng chúng không xuất hiện rải đều. Chúng dồn vào ba thời điểm. Kiểm tra đúng ba mốc này, phần lớn sự cố không có cơ hội xảy ra.
|
Mốc kiểm tra |
Kiểm những gì |
Chặn được lỗi số |
|---|---|---|
|
Mốc 1 - Trước khi lắp tấm đầu tiên |
Kết cấu chịu lực đã nghiệm thu chưa; kho bãi có mái che, chồng cách 200mm, lối đi 700mm chưa; đã kiểm tra xác suất ≥10 tấm cho lô chưa; bản vẽ đi ngầm đã phê duyệt chưa |
2, 4 và một phần lỗi 1 |
|
Mốc 2 - Sau khi lắp xong mảng tường, trước khi cho bất kỳ đội nào chạm vào |
Đo đủ 4 chỉ tiêu Bảng 1 và lập biên bản; kiểm tra tấm cắt đã nghiệm thu gia công và xử lý cạnh cắt chưa; hệ chống tạm còn nguyên chưa |
3, 5 và phần còn lại của lỗi 2 |
|
Mốc 3 - Trước khi trát và hoàn thiện |
Rãnh đi ngầm có vượt 1/2 chiều dày và 1/3 chiều rộng không; đã nghiệm thu đi ngầm chưa; chủng loại vữa trát và biện pháp bám dính đã chốt chưa; phương án chống thấm đã xác định mặt nào ngăn hơi mặt nào thoáng hơi chưa |
1, 6, 7 |
Lỗi duy nhất không nằm gọn trong ba mốc này là lỗi số 4, vì hậu quả của nó xuất hiện nhiều tháng sau khi tấm đã nằm trong tường. Đó cũng là lý do nó phải được chặn ngay từ khâu nhận hàng - không có cơ hội thứ hai.
Câu hỏi thường gặp về lỗi thi công tấm Panel ALC
1. Lỗi nào nghiêm trọng nhất khi thi công Panel ALC?
Cắt đứt cốt thép dọc khi đục rãnh điện nước. Đây là lỗi duy nhất trong danh sách gần như không có biện pháp khắc phục - không có cách vá nào khôi phục lại khả năng chịu uốn và khả năng treo vật nặng của tấm, nên phương án đúng là thay tấm. TCVN 12869:2020 mục 7.5.1 giới hạn chiều sâu rãnh không quá 1/2 chiều dày tấm và mục 7.5.2 yêu cầu tránh vị trí thép dọc.
2. Đục rãnh điện nước trên tường panel được sâu bao nhiêu?
Không quá 1/2 chiều dày tấm và chiều rộng không nên quá 1/3 chiều rộng tấm, theo mục 7.5.1 TCVN 12869:2020. Với tấm 1200 × 600 × 100mm, giới hạn là sâu tối đa 50mm và rộng tối đa 200mm. Cách làm đúng là cắt hai đường song song bằng máy cắt rồi đục bỏ phần giữa, tránh dải khoảng 50mm sát mỗi cạnh tấm vì đó là vị trí thép dọc biên.
3. Thi công tường panel vào mùa mưa có ảnh hưởng gì không?
Có, và ảnh hưởng nằm ở khâu bảo quản chứ không phải khâu lắp. Mục 6.3.7 TCVN 12869:2020 yêu cầu có biện pháp tránh để tấm bị ẩm ướt, mục 5.2.3 yêu cầu kho có mái che và nền không ngập nước. Tấm ngấm nước mưa sẽ co ngót nhiều hơn và lâu hơn sau khi lắp, dẫn tới nứt mạch hàng loạt sau vài tháng. Nếu thi công mùa mưa, việc quan trọng nhất là chuẩn bị chỗ che trước khi nhận hàng.
4. Có được tưới nước lên tường panel trước khi trát không?
Không nên tưới đẫm như với tường gạch. Làm ướt nền quá mức khiến bám dính kém và lớp trát chảy xệ. Nên làm ẩm vừa đủ bằng cách phun sương và đánh giá bằng phép thử quét nước: nước thấm chậm và đều là đạt, nước đọng thành vũng là đã quá ướt. Quan trọng hơn là chọn đúng vữa - mục 8.4.2 TCVN 12869:2020 khuyến nghị vữa trát trộn sẵn cho bê tông nhẹ theo TCVN 9028:2011, ví dụ dòng EBS 302 mà Càn Thanh phân phối.
5. Sau khi lắp panel bao lâu thì trát và sơn hoàn thiện được?
Về mặt trình tự, mục 8.1 TCVN 12869:2020 quy định hoàn thiện bề mặt được thực hiện sau khi lắp dựng tấm và thi công hệ thống đi ngầm đã hoàn thành và được nghiệm thu - nghĩa là mốc là hai biên bản nghiệm thu, không phải một số ngày cố định. Về mặt vật lý, tấm vẫn tiếp tục co ngót nhiều tháng sau đó, nên lớp hoàn thiện phải được cấu tạo để đi cùng biến dạng đó: mạch nối dùng vật liệu đàn hồi, có lưới chống nứt, và không bịt kín thoát hơi cả hai mặt tường.
6. Cắt tấm panel tại công trường có phải xử lý gì thêm không?
Có hai việc. Thứ nhất, mục 9.3.2 TCVN 12869:2020 yêu cầu tấm sau gia công phải được nghiệm thu về độ chính xác gia công trước khi đưa vào lắp dựng. Thứ hai, mặt cắt làm lộ đầu cốt thép ra ngoài - nơi không còn lớp bê tông bảo vệ 10mm theo mục 5.3.4 TCVN 12867:2020 - nên cần quét vật liệu bảo vệ chống ăn mòn (chủng loại do thiết kế chỉ định) lên đầu thép, đặc biệt với tấm dùng ở tường ngoài, tường WC hoặc chân tường ẩm. Cách rẻ hơn là bố trí tấm cắt tránh các vị trí ẩm ngay từ bước bóc tách trên bản vẽ.
7. Vì sao trám mạch nối nhiều lần mà vẫn nứt lại?
Ba nguyên nhân phổ biến nhất: dùng vữa xi măng thông thường thay vì vật liệu có khả năng đàn hồi như mục 8.3.3 TCVN 12869:2020 khuyến nghị; không có lưới chống nứt hoặc lưới trùm quá hẹp so với mức 150mm mỗi bên của mục 8.4.4; và tường bị sơn bả ngăn hơi kín cả hai mặt khiến độ ẩm không thoát được, co ngót kéo dài nên mạch tiếp tục chuyển vị sau mỗi lần trám. Trường hợp thứ ba phải xử lý bằng cách trả lại đường thoát ẩm trước, trám lại sau.
8. Làm sao chọn được đội thi công Panel ALC có kinh nghiệm?
Ba câu hỏi lọc được phần lớn: đội có lập biện pháp thi công theo cấu trúc TCVN 12869:2020 không, hay chỉ báo giá theo mét vuông; đội có biết Bảng 1 quy định sai lệch cho phép của tường sau lắp dựng gồm những chỉ tiêu nào không; và đội trả lời thế nào về thứ tự nghiệm thu giữa lắp dựng, đi ngầm và hoàn thiện. Một đội đã làm thật sẽ trả lời được cả ba mà không cần tra cứu.
Đang gặp sự cố trên công trình cụ thể?
Càn Thanh hỗ trợ chủ đầu tư và nhà thầu đánh giá hiện trạng tường panel qua ảnh hoặc khảo sát trực tiếp: xác định lỗi thuộc khâu nào, còn khắc phục được hay phải thay tấm, và phương án xử lý phù hợp với tiến độ hiện tại của công trình. Kỹ sư kỹ thuật cũng hỗ trợ rà soát biện pháp thi công trước khi triển khai - chi phí bằng không và luôn rẻ hơn việc sửa sau.
|
Hotline 0967 213 312 - Zalo 0982 127 343 - canthanh.com.vn |
Bạn sẽ quan tâm:
Chống thấm tường Panel ALC: cấu tạo đúng cho WC, ban công, tường ngoài
Thi công tường Panel ALC: quy trình 10 bước chuẩn TCVN 12869:2020
Panel ALC vs Cemboard/SmartBoard: so sánh đúng đối tượng
Panel ALC vs gạch xây truyền thống: so sánh bằng số
Panel ALC 1 Lớp Thép Hay 2 Lớp Thép: Chọn Đúng Theo Nhịp | Càn Thanh

