Danh mục sản phẩm
Chống thấm tường Panel ALC: cấu tạo đúng cho WC, ban công, tường ngoài
Post 2026-08-19 |
|
Trả lời nhanh Tường tấm Panel ALC chống thấm được cho nhà vệ sinh, ban công, sân thượng và tường ngoài, nhưng phải làm đúng ba việc: xử lý kín các mạch nối, thi công lớp chống thấm TRƯỚC lớp trát theo mục 8.4.1 TCVN 12869:2020, và chỉ ngăn hơi ở một mặt tường. Chiều cao chống thấm chân tường bếp và khu vệ sinh nên cao hơn 1.200mm theo chú thích mục 8.3.4; với tường ngoài, tường hộp kỹ thuật và tường phòng tắm thì nên chống thấm toàn bộ bề mặt. Điểm cần nhớ: nước hiếm khi đi xuyên qua lõi tấm. Bốn đường vào thật sự là mạch ngàm giữa hai tấm, mạch tiếp giáp tấm với cột và dầm, chân tường, và rãnh điện nước đi ngầm. |
|
Cần chốt cấu tạo chống thấm cho khu vệ sinh, ban công hay tường ngoài của một công trình cụ thể? Kỹ sư Càn Thanh tư vấn miễn phí - Hotline 0967 213 312 |
Panel ALC có hút nước không? Câu trả lời chính xác quan trọng hơn câu trả lời ngắn
Đây là câu hỏi khiến nhiều chủ nhà ngần ngại dùng panel cho khu vệ sinh, và câu trả lời trên mạng thường rơi vào một trong hai thái cực: hoặc quả quyết panel không thấm nước, hoặc cảnh báo panel hút nước như bọt biển. Cả hai đều sai theo cách riêng.
Sự thật nằm ở cấu trúc lỗ rỗng. Tài liệu kỹ thuật của E-Block nói thẳng: panel với cấu trúc bọt khí rỗng bên trong nên có độ hút nước cao hơn các vật liệu truyền thống khác - nhưng chính đặc điểm đó lại là ưu điểm trong việc điều hòa độ ẩm cho các không gian kín.
Báo cáo RILEM về bê tông khí chưng áp bổ sung phần còn thiếu của bức tranh, và đây là chi tiết quyết định. AAC có lực hút mao dẫn tương đối RẤT THẤP, vì các lỗ khí lớn được tạo ra trong quá trình sản xuất gần như là lỗ kín, không thông nhau. Hệ quả: độ ẩm trong vật liệu thông thường không đạt tới mức tới hạn. Chỉ khi có áp lực thủy tĩnh cao, hoặc bị mưa hắt mạnh kéo dài, hoặc tiếp xúc nước ngầm, AAC mới có thể bão hòa nước.
Ghép hai điều đó lại: bề mặt panel hút nước nhanh, nhưng nước không đi sâu vào lõi vì không có mạng lỗ mao dẫn thông suốt để dẫn nó đi. Đây là điểm khác biệt căn bản so với gạch đất sét - loại vật liệu có mạng mao dẫn liên tục nên dẫn nước rất xa theo cả phương ngang lẫn phương đứng.
Kết luận có ích cho thi công: vấn đề chống thấm của tường panel gần như không nằm ở bản thân tấm. Nó nằm ở mạch nối và ở lớp hoàn thiện. Toàn bộ phần còn lại của bài này xoay quanh đúng hai chỗ đó.
Ba nguồn nước trong tường panel và bốn đường nước đi vào
Muốn xử lý đúng thì phải phân biệt được nước từ đâu tới. Báo cáo RILEM chỉ ra ba nguồn nước hoàn toàn khác nhau trong AAC, và mỗi nguồn cần một cách xử lý khác nhau.
|
Nguồn nước |
Bản chất |
Cách xử lý đúng |
|---|---|---|
|
Nước dư sau chưng áp |
Ngay sau khi ra khỏi nồi chưng áp, AAC chứa khoảng 30% nước tính theo khối lượng vật liệu khô. Lượng nước dư này thoát dần ra không khí xung quanh trong vài năm |
KHÔNG chặn. Phải để nó thoát ra - đây là lý do của nguyên tắc không bịt kín cả hai mặt tường ở mục 6 |
|
Nước hút từ không khí ẩm |
Khi độ ẩm không khí tăng, AAC hút ẩm và ngưng tụ mao dẫn. Độ ẩm cân bằng khoảng 2% ở RH 25%, khoảng 4% ở RH 75%, và tăng vọt khi RH tiến tới 100% |
Không cần xử lý. Đây chính là khả năng điều hòa độ ẩm mà tài liệu E-Block nhắc tới |
|
Nước lỏng tiếp xúc bề mặt |
Khi bề mặt tấm chạm nước lỏng, vật liệu hút nước nhanh bằng mao dẫn - nhưng dừng lại ở lớp mặt vì lỗ khí lớn gần như kín |
ĐÂY là nguồn cần chống. Xử lý bằng lớp hoàn thiện đúng cấu tạo, không phải bằng cách chọn tấm đặc hơn |
Còn về đường đi, tường panel có đúng bốn vị trí mà nước thực sự có thể xuyên qua, và không vị trí nào trong số đó là lõi tấm:
- Mạch ngàm giữa hai tấm liền kề - nếu khoang keo trong ngàm không được điền đầy liên tục, mạch trở thành một đường dẫn nước chạy suốt chiều dài tấm.
- Mạch tiếp giáp giữa tấm với cột, dầm, sàn hoặc tường hiện hữu - đây là vị trí chuyển vị lớn nhất nên cũng là vị trí dễ hở nhất theo thời gian.
- Chân tường - nơi nước đọng trên sàn tiếp xúc trực tiếp và lâu nhất với tường.
- Rãnh điện nước đi ngầm - nếu rãnh không được điền đầy và làm phẳng đúng cách, nó là một khe rỗng nằm chìm trong tường.
TCVN 12869:2020 quy định gì về chống thấm tường panel
Toàn bộ nội dung chống thấm nằm ở mục 8.3 của tiêu chuẩn, gồm bốn điều khoản ngắn. Ngắn nhưng đủ để phủ hết những quyết định quan trọng, và có một con số mà gần như không hướng dẫn thi công nào đang lưu hành nhắc tới.
1 - Khi nào bắt buộc phải nghĩ tới chống thấm
Nên có các biện pháp chống thấm cho kết cấu tường làm việc trong điều kiện độ ẩm cao hoặc ở các khu vực tiếp xúc với nước. Đây là điều khoản mở đầu, xác định phạm vi: không phải mọi bức tường panel đều cần chống thấm, nhưng mọi bức tường ở khu ẩm thì cần.
2 - Căn cứ để chọn vật liệu và cấu tạo
Lựa chọn vật liệu và cấu tạo chống thấm cần căn cứ vào điều kiện vận hành và đặc điểm kết cấu. Nghĩa là không có một cấu tạo chống thấm dùng chung cho mọi vị trí - tường ngoài chịu mưa hắt khác hẳn tường WC chịu nước đọng, và cả hai khác hẳn tường tầng hầm chịu áp lực nước ngầm.
3 - Mối nối phải được điền đầy
Mối nối giữa các tấm và giữa tấm với kết cấu liền kề phải được điền đầy bằng vật liệu phù hợp; nên sử dụng các vật liệu có khả năng đàn hồi. Đây là điều khoản quan trọng nhất của cả mục 8.3 nhưng lại hay bị đọc lướt, vì nó nằm trong phần chống thấm chứ không nằm trong phần lắp dựng.
4 - Phạm vi và chiều cao chống thấm
Tùy theo điều kiện làm việc, có thể chống thấm toàn bộ bề mặt tường hoặc tới một chiều cao nhất định. Vật liệu chống thấm bề mặt cần liên kết tốt với bê tông khí chưng áp và với các lớp trang trí.
|
Chú thích của mục 8.3.4 - hai con số nên đưa vào biên bản nghiệm thu Với tường ngoài, tường hộp kỹ thuật và tường phòng tắm: nên chống thấm TOÀN BỘ bề mặt. Với tường khu vực bếp và khu vệ sinh không có tấm: chiều cao chống thấm nên CAO HƠN 1.200mm. |
Con số 1.200mm là thứ dễ kiểm tra nhất trong toàn bộ công tác chống thấm - chỉ cần một thước dây. Nó cũng là con số hay bị làm hụt nhất, vì nhiều đội quen quét chống thấm cao khoảng một mét rồi dừng.
Lưu ý cách diễn đạt của tiêu chuẩn: cụm 'khu vực bếp và khu vệ sinh không có tấm' chỉ trường hợp bức tường tại đó không phải tường panel. Với tường phòng tắm bằng chính tấm panel, chú thích đã xếp vào nhóm nên chống thấm toàn bộ bề mặt - tức là yêu cầu cao hơn 1.200mm chứ không thấp hơn.
Thứ tự đúng: chống thấm TRƯỚC, trát SAU - nhiều nơi đang làm ngược
Đây là lỗi cấu tạo phổ biến nhất và cũng là lỗi tốn kém nhất để sửa, vì muốn sửa thì phải bóc cả lớp hoàn thiện.
Mục 8.4.1 TCVN 12869:2020 viết rất rõ: lớp trát có thể được thi công trực tiếp trên bề mặt kết cấu tường SAU KHI đã thực hiện công tác chống thấm (nếu có). Trình tự là panel → chống thấm → trát → ốp hoặc sơn.
Thói quen làm ngược đến từ tường xây gạch, nơi người ta hay trát phẳng rồi mới quét chống thấm lên mặt trát. Với tường panel, cách đó có hai vấn đề. Thứ nhất, lớp chống thấm khi đó nằm trên một lớp vữa dày chứ không nằm trực tiếp trên tấm, nên nếu lớp trát bị bong hoặc nứt thì lớp chống thấm bong theo. Thứ hai, và quan trọng hơn, nước đã lọt qua lớp chống thấm sẽ nằm lại trong lớp trát - đúng vị trí bám dính giữa trát và tấm.
Mục 8.3.4 nói thêm một điều kiện đi kèm: vật liệu chống thấm bề mặt cần liên kết tốt với bê tông khí chưng áp VÀ với các lớp trang trí. Nghĩa là lớp chống thấm phải bám được cả hai phía - dưới là tấm, trên là lớp trát. Đây là tiêu chí để chọn chủng loại chống thấm, không phải chọn theo giá.
Cấu tạo chống thấm theo từng vị trí
Mục 8.3.2 yêu cầu chọn cấu tạo theo điều kiện vận hành, nên bảng dưới đây tách theo vị trí thay vì đưa một công thức chung. Cột cuối ghi nguồn của từng khuyến nghị để tiện đối chiếu khi lập biện pháp thi công.
|
Vị trí |
Cấu tạo khuyến nghị |
Chiều cao / phạm vi |
Nguồn |
|---|---|---|---|
|
Tường ngoài trời |
Vữa tô chuyên dụng cho bê tông khí chưng áp dày từ 7mm trở lên, kết hợp sơn gốc acrylic thông thường |
Toàn bộ bề mặt |
Tài liệu E-Block; TCVN 12869 chú thích 8.3.4 |
|
Tường phòng tắm, nhà vệ sinh |
Chống thấm trực tiếp trên tấm rồi mới trát; ốp gạch hoàn thiện |
Toàn bộ bề mặt mặt ướt |
TCVN 12869 chú thích 8.3.4 |
|
Tường bếp |
Chống thấm chân tường rồi trát, ốp phần tiếp xúc nước |
Cao hơn 1.200mm |
TCVN 12869 chú thích 8.3.4 |
|
Tường hộp kỹ thuật |
Chống thấm toàn bộ bề mặt phía trong hộp |
Toàn bộ bề mặt |
TCVN 12869 chú thích 8.3.4 |
|
Ban công, logia, sân thượng |
Chống thấm tường và chân tường như với các loại gạch khác; đặc biệt chú ý mạch chân tường tiếp giáp sàn |
Chân tường và phần tiếp xúc nước mưa hắt |
Tài liệu E-Block mục 2.2.6 |
|
Tầng hầm, khu vực thường xuyên đọng nước |
Khuyến cáo dùng dòng sản phẩm chống thấm chuyên biệt, hoặc bổ sung biện pháp chống thấm theo yêu cầu của thiết kế |
Theo thiết kế |
Tài liệu E-Block mục 2.2.5 |
Riêng con số 7mm cho tường ngoài đáng được nhấn mạnh, vì nó là con số hiếm hoi có định lượng trong toàn bộ chủ đề này. Tài liệu kỹ thuật E-Block cho biết: với mặt tường ngoài, việc sử dụng vữa tô chuyên dụng với độ dày từ 7mm trở lên, kết hợp với các loại sơn thông thường gốc acrylic, hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu bảo vệ mặt ngoài tường khỏi sự tấn công của nước mưa.
Nói cách khác: tường ngoài bằng panel ALC không bắt buộc phải có màng chống thấm chuyên dụng đắt tiền, miễn là lớp trát đủ dày và đúng chủng loại. Đây là thông tin có lợi cho chủ đầu tư và cũng là thông tin mà một nhà cung cấp trung thực nên nói ra, kể cả khi nói ra thì bán được ít vật tư hơn.
Ngược lại, với tầng hầm và khu vực thường xuyên đọng nước thì tài liệu khuyến cáo rõ là phải dùng giải pháp chuyên biệt hoặc bổ sung biện pháp theo thiết kế - đừng cố tiết kiệm ở những vị trí này.
Nguyên tắc một mặt: chống thấm mặt ướt, để mặt còn lại thở
Đây là nguyên tắc phản trực giác nhất của cả bài, và cũng là nguyên nhân của những vụ nứt mạch dai dẳng mà trám bao nhiêu lần cũng nứt lại.
Mục 8.5.4 TCVN 12869:2020 viết: nên lựa chọn các loại sơn có khả năng chống thấm cho các khu vực chịu tác động của hơi ẩm, nước - bề mặt tường phía ngoài, tường bếp, khu vệ sinh. TUY NHIÊN, không nên dùng sơn bả có khả năng chống thấm, ngăn cản sự thoát hơi đồng thời trên cả hai bề mặt của một kết cấu tường.
Lý do quay lại nguồn nước thứ nhất ở mục 2. Tấm panel rời nhà máy vẫn còn lượng ẩm đáng kể và sẽ co ngót trong lúc lượng ẩm đó thoát ra. Bịt kín cả hai mặt tường nghĩa là chặn hết đường thoát ẩm - bức tường không khô đi được, giai đoạn co ngót kéo dài ra, và mạch nối tiếp tục chuyển vị sau mỗi lần trám.
Mô hình co ngót trong báo cáo RILEM cho phép ước lượng mức độ nghiêm trọng: thời gian co ngót phụ thuộc vào bình phương quãng đường thoát ẩm. Khi cả hai mặt cùng thoát ẩm, quãng đường đó bằng nửa chiều dày tấm. Bịt kín một mặt thì quãng đường tăng gấp đôi, và thời gian cần thiết tăng lên khoảng bốn lần. Với tấm dày 100mm, thay vì khoảng mười một tháng để đạt 90% mức co ngót, con số đó bị đẩy lên hàng nhiều năm.
Cách làm đúng vì thế rất đơn giản về nguyên tắc: xác định mặt nào là mặt ướt, chống thấm mặt đó, và để mặt còn lại dùng vật liệu thoáng hơi. Với tường ngăn giữa phòng tắm và phòng ngủ thì chống thấm phía phòng tắm, phía phòng ngủ dùng bột bả và sơn thông thường. Với tường ngoài thì chống thấm phía ngoài, phía trong để thoáng.
Trường hợp khó là bức tường có nước ở cả hai phía - ví dụ tường ngăn giữa hai nhà vệ sinh, hoặc tường ngoài của một phòng tắm. Khi đó không còn mặt nào để thở, và giải pháp phải chuyển sang hướng khác: giảm lượng ẩm ban đầu bằng cách để tấm khô đủ lâu trước khi hoàn thiện, kéo dài thời gian chờ giữa lắp dựng và hoàn thiện, hoặc chọn cấu tạo mạch nối có khả năng biến dạng cao hơn. Đây là tình huống nên hỏi ý kiến thiết kế chứ không nên tự quyết tại hiện trường.
Bốn điểm rò rỉ thật sự và cách xử lý từng điểm
Phần này là trọng tâm thực hành. Nếu chỉ có thời gian làm kỹ bốn chỗ, thì đây là bốn chỗ đó.
1. Mạch ngàm giữa hai tấm liền kề
Biên dạng ngàm âm dương của panel chừa sẵn một khoang chứa keo chạy suốt chiều dài mạch. Khoang đó phải được điền đầy LIÊN TỤC - chỉ cần một đoạn rỗng dài vài chục centimét là đủ để tạo một đường dẫn nước xuyên qua tường. Cách kiểm soát duy nhất là làm đúng ngay lúc ép tấm: phủ đủ vữa lên cạnh tấm đã lắp để khi ép tấm tiếp theo thì mạch tự điền đầy, rồi quan sát vữa trào đều dọc mạch. Sau khi vữa đã đóng rắn thì không còn cách nào kiểm tra bên trong mạch nữa.
2. Mạch tiếp giáp tấm với cột, dầm, sàn
Đây là vị trí chuyển vị lớn nhất vì hai vật liệu khác nhau co giãn khác nhau, và cũng là vị trí mục 8.3.3 nhắm tới khi khuyến nghị dùng vật liệu có khả năng đàn hồi. Trong hệ vật tư Càn Thanh, vật liệu dành riêng cho vị trí này là vữa đàn hồi EBF-501 - loại chuyên trám khe biến dạng chống nứt tại tiếp giáp tường – dầm và tường – cột. Với khe hở lớn giữa đỉnh tấm và đáy dầm, tài liệu kỹ thuật E-Block còn khuyến cáo chèn bằng chai bọt PU (Polyurethane Foam) trước khi trám hoàn thiện. Điều tuyệt đối không nên làm là chèn cứng bằng vữa xi măng hoặc bằng chính vữa xây EBT 104 - cả hai đều là vữa gốc xi măng, không có khả năng biến dạng, nên mạch sẽ nứt và nứt xong thì nước có đường vào.
3. Chân tường
Nước đọng trên sàn tiếp xúc với chân tường lâu hơn bất kỳ vị trí nào khác. Lớp chống thấm ở đây không được dừng ở mặt sàn mà phải hất ra chân tường và liên tục với lớp chống thấm sàn, tạo thành một khối kín không có đường nối hở. Tài liệu E-Block nêu rõ: tại các khu vực ẩm ướt như sàn vệ sinh, bếp, ban công, nên sử dụng các biện pháp chống thấm tường VÀ chân tường như với các loại gạch khác nếu cần thiết.
4. Rãnh điện nước đi ngầm
Một rãnh đi ngầm chưa được điền đầy là một ống dẫn nước nằm chìm trong tường. Mục 7.8 TCVN 12869:2020 quy định cách hoàn thiện: dán lưới và điền đầy, làm phẳng bằng vữa chuyên dụng và vật liệu bả nếu cần - và đặt ra một tiêu chí nghiệm thu rất rõ ràng: bề mặt tấm sau khi hoàn thiện phải KHÔNG CÓ vết nứt. Ở khu vực ẩm ướt, nên hoàn thiện rãnh xong rồi mới quét chống thấm phủ lên, không quét chống thấm trước rồi mới đục rãnh.
Mốc thời gian: bao lâu sau khi lắp thì được trát, chống thấm và bả
Câu hỏi này hay bị trả lời bằng cảm tính. Có hai nhóm mốc cần phân biệt: mốc theo TRÌNH TỰ NGHIỆM THU do tiêu chuẩn quy định, và mốc theo THỜI GIAN do nhà sản xuất khuyến cáo. Cả hai đều phải thỏa mãn.
|
Mốc |
Nội dung |
Nguồn |
|---|---|---|
|
Trình tự bắt buộc |
Hoàn thiện bề mặt tường chỉ được thực hiện sau khi lắp dựng tấm và thi công hệ thống đi ngầm đã hoàn thành và ĐƯỢC NGHIỆM THU |
TCVN 12869:2020 mục 8.1 |
|
Sau lắp dựng 24 giờ |
Có thể tiến hành tô trát |
Tài liệu E-Block mục 2.2.6 |
|
Sau lắp dựng 72 giờ |
Có thể bả mastic |
Tài liệu E-Block mục 2.2.6 |
|
Sau khi tô 24 giờ |
Khi nhiệt độ môi trường cao, phải tưới nước bảo dưỡng lớp tô |
Tài liệu E-Block mục 2.2.6 |
|
Trước khi ốp gạch |
Cường độ vữa trát phải đạt tối thiểu 75% mác thiết kế nếu ốp trên bề mặt trát |
TCVN 12869:2020 mục 8.6.1 |
Hai lưu ý thi công nữa từ tài liệu E-Block, đều liên quan trực tiếp tới chất lượng lớp chống thấm và lớp trát về sau. Thứ nhất: sử dụng các biện pháp che chắn tường trong quá trình lắp dựng và tô khi trời mưa - tường ướt trước khi hoàn thiện là bắt đầu sai. Thứ hai: không sử dụng vữa sau khi trộn quá 2 tiếng, và không dùng lại phần vữa đã rớt ra ngoài.
Về việc làm ẩm bề mặt trước khi tô, tài liệu E-Block hướng dẫn: khi nhiệt độ thời tiết cao, phun MỘT ÍT nước lên bề mặt tường để tạo độ ẩm và tạo lực bám dính tốt. Chữ 'một ít' là quan trọng - báo cáo RILEM cảnh báo rằng làm ướt nền quá mức sẽ dẫn tới bám dính kém và lớp trát chảy xệ, tức là hại đúng thứ mình đang muốn cải thiện.
Năm sai lầm chống thấm hay gặp nhất
1. Quét chống thấm lên lớp trát thay vì lên tấm
Ngược với mục 8.4.1. Lớp chống thấm khi đó phụ thuộc vào độ bám của lớp trát, và nước lọt qua sẽ đọng lại đúng ở mặt tiếp xúc giữa trát và tấm.
2. Dừng chống thấm ở khoảng một mét
Chú thích mục 8.3.4 nêu mốc cao hơn 1.200mm cho bếp và khu vệ sinh. Đây là con số kiểm tra được bằng thước dây khi nghiệm thu.
3. Sơn bả chống thấm kín cả hai mặt tường
Vi phạm mục 8.5.4 và là nguyên nhân của những vụ nứt mạch trám mãi không hết. Chặn đường thoát ẩm làm giai đoạn co ngót dài ra gấp nhiều lần.
4. Chống thấm bề mặt nhưng bỏ qua mạch nối
Mục 8.3.3 xếp việc điền đầy mối nối vào chính phần chống thấm. Màng chống thấm phủ đều lên một mạch rỗng bên dưới chỉ che được vấn đề chứ không giải quyết nó.
5. Chèn cứng mạch tiếp giáp tấm với dầm, cột bằng vữa xi măng
Mục 8.3.3 khuyến nghị vật liệu có khả năng đàn hồi cho mối nối giữa tấm với kết cấu liền kề. Đây là vị trí dùng vữa đàn hồi EBF-501 chuyên trám khe biến dạng, KHÔNG dùng vữa xây EBT 104 vốn là vữa gốc xi măng; với khe hở lớn thì tài liệu E-Block khuyến cáo chèn bọt PU trước khi trám.
Danh sách đầy đủ hơn về các lỗi ở những khâu khác của quá trình thi công được trình bày trong bài riêng về bảy lỗi thường gặp khi thi công panel ALC.
Câu hỏi thường gặp về chống thấm tường Panel ALC
1. Tường Panel ALC có làm nhà vệ sinh được không?
Được, và đây là ứng dụng phổ biến. Điều kiện là làm đúng cấu tạo: chống thấm trực tiếp trên tấm rồi mới trát theo mục 8.4.1 TCVN 12869:2020, chống thấm toàn bộ bề mặt mặt ướt theo chú thích mục 8.3.4, xử lý kín mạch ngàm và mạch chân tường, và chỉ ngăn hơi ở mặt phòng tắm - mặt phòng khô phải để thoáng hơi theo mục 8.5.4.
2. Chống thấm tường panel ALC cao bao nhiêu là đủ?
Theo chú thích mục 8.3.4 TCVN 12869:2020: với tường khu vực bếp và khu vệ sinh, chiều cao chống thấm nên cao hơn 1.200mm. Với tường ngoài, tường hộp kỹ thuật và tường phòng tắm thì nên chống thấm toàn bộ bề mặt chứ không dừng ở một chiều cao nào.
3. Quét chống thấm trước hay trát trước?
Chống thấm trước. Mục 8.4.1 TCVN 12869:2020 quy định lớp trát được thi công trên bề mặt kết cấu tường sau khi đã thực hiện công tác chống thấm. Trình tự đúng là panel → chống thấm → trát → ốp hoặc sơn. Làm ngược lại khiến lớp chống thấm phụ thuộc vào độ bám của lớp trát và khiến nước đọng ở mặt tiếp xúc giữa trát với tấm.
4. Tường ngoài bằng panel ALC có cần màng chống thấm chuyên dụng không?
Không bắt buộc trong điều kiện thông thường. Tài liệu kỹ thuật E-Block cho biết với mặt tường ngoài, vữa tô chuyên dụng dày từ 7mm trở lên kết hợp sơn thông thường gốc acrylic hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu bảo vệ khỏi nước mưa. Riêng tầng hầm và khu vực thường xuyên đọng nước thì cần giải pháp chuyên biệt hoặc biện pháp bổ sung theo thiết kế.
5. Vì sao không được sơn chống thấm cả hai mặt tường?
Vì tấm panel vẫn còn lượng ẩm sau sản xuất và phải thoát ẩm ra ngoài mới hết co ngót. Mục 8.5.4 TCVN 12869:2020 khuyến cáo không dùng sơn bả ngăn cản sự thoát hơi đồng thời trên cả hai bề mặt của một kết cấu tường. Theo mô hình co ngót của RILEM, bịt kín một mặt làm quãng đường thoát ẩm dài gấp đôi và thời gian cần thiết tăng khoảng bốn lần - đó là lý do những bức tường bị bịt kín hai mặt cứ trám mạch xong lại nứt.
6. Panel ALC có hút nước không?
Bề mặt hút nước nhanh vì cấu trúc bọt khí rỗng, nhưng nước không đi sâu vào lõi. Báo cáo RILEM giải thích: các lỗ khí lớn trong AAC gần như là lỗ kín nên vật liệu có lực hút mao dẫn rất thấp, độ ẩm thông thường không đạt tới mức tới hạn. Chỉ khi có áp lực thủy tĩnh cao, mưa hắt mạnh kéo dài hoặc tiếp xúc nước ngầm thì mới có nguy cơ bão hòa. Vì vậy vấn đề chống thấm của tường panel nằm ở mạch nối và lớp hoàn thiện, không nằm ở lõi tấm.
7. Sau khi lắp panel bao lâu thì chống thấm và trát được?
Về trình tự, mục 8.1 TCVN 12869:2020 yêu cầu hoàn thiện bề mặt chỉ được thực hiện sau khi lắp dựng và thi công đi ngầm đã hoàn thành và được nghiệm thu. Về thời gian, tài liệu E-Block khuyến cáo sau khi lắp dựng 24 tiếng có thể tiến hành tô trát và sau 72 tiếng có thể bả mastic. Phải thỏa mãn cả hai - có đủ 72 giờ nhưng chưa nghiệm thu đi ngầm thì vẫn chưa được hoàn thiện.
8. Mạch giữa tường panel và dầm bê tông chèn bằng gì để không thấm?
Bằng vật liệu đàn hồi, không chèn cứng. Mục 8.3.3 TCVN 12869:2020 khuyến nghị dùng vật liệu có khả năng đàn hồi cho mối nối giữa tấm với kết cấu liền kề. Trong hệ vật tư Càn Thanh, sản phẩm dành cho vị trí này là vữa đàn hồi EBF-501 chuyên trám khe biến dạng tại tiếp giáp tường – dầm và tường – cột; với khe hở lớn thì tài liệu E-Block khuyến cáo chèn chai bọt PU trước rồi mới trám. Lưu ý không dùng vữa xây EBT 104 cho vị trí này - đó là vữa gốc xi măng dùng cho mạch giữa hai tấm, không có khả năng biến dạng. Chèn cứng ở khe tiếp giáp gần như chắc chắn dẫn tới nứt, và nứt thì nước có đường vào.
Cần chốt cấu tạo chống thấm cho công trình cụ thể?
Càn Thanh hỗ trợ chủ đầu tư và nhà thầu xác định cấu tạo chống thấm phù hợp cho từng vị trí - khu vệ sinh, ban công, sân thượng, tường ngoài, tầng hầm - theo đúng khung của TCVN 12869:2020, kèm chỉ dẫn thứ tự thi công và mẫu biểu nghiệm thu. Đội ngũ kỹ thuật cũng rà soát biện pháp thi công trước khi triển khai, vì chi phí sửa chống thấm sau khi đã ốp lát luôn lớn hơn nhiều lần chi phí làm đúng ngay từ đầu.
|
Hotline 0967 213 312 - Zalo 0982 127 343 - canthanh.com.vn |
Bạn sẽ quan tâm:
7 lỗi thường gặp khi thi công Panel ALC và cách khắc phục
Thi công tường Panel ALC: quy trình 10 bước chuẩn TCVN 12869:2020
Panel ALC vs Cemboard/SmartBoard: so sánh đúng đối tượng
Panel ALC vs gạch xây truyền thống: so sánh bằng số
Panel ALC 1 Lớp Thép Hay 2 Lớp Thép: Chọn Đúng Theo Nhịp | Càn Thanh

